Giáo Dục

Tóm tắt vợ nhặt hay, ngắn nhất (5 mẫu) – ngữ văn lớp 12

tóm tắt vợ nhặt hay, ngắn nhất (5 mẫu) – Ngữ văn lớp 12

Tóm tắt Vợ nhặt hay, ngắn nhất (5 mẫu)

Bài giảng: Vợ nhặt – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

Bản tóm tắt bài Vợ nhặt Ngữ văn lớp 12 gồm các bài tóm tắt ngắn gọn, hay nhất giúp học sinh biết cách tóm tắt tác phẩm
Vợ nhặt từ đó nắm được những nét chính về nội dung của văn bản để học tốt môn Ngữ văn lớp 12.

Tóm tắt Vợ nhặt

Tóm tắt Vợ nhặt (mẫu 1)

    Nạn đói Ất Dậu năm 1945 xảy ra khiến hơn hai triệu người chết từ Trung Kì trở ra như ngả rạ ngoài đồng. Sự kiện lịch sử ấy đã đi vào trong văn chương qua tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân. Năm đói ấy người chết thây ma đầy đường, người sống thì cũng vật vờ, dặt dẹo. Ở xóm ngụ cư nọ, có anh cu Tràng thô kệch, xấu xí làm nghề đẩy xe bò kiếm miếng ăn qua ngày nuôi mẹ già trong túp lều nho nhỏ. Trong một lần đi lên tỉnh anh gặp thị-một cô gái đói rách, gầy hốc hác. Lần thứ hai gặp lại anh buông câu hò nửa thật nửa đùa “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/ Lên đây mà đẩy xe bò với anh nì”. Chỉ với lời bông đùa ấy cùng bốn bát bánh đúc Tràng mời thị ăn mà anh nhanh chóng có vợ. Thị theo Tràng về nhà với cái vẻ rụt rè, ngại ngùng khiến cho tất cả người dân xóm ngụ cư bất ngờ. Ngạc nhiên nhất vẫn là bà cụ Tứ khi có người con gái theo con trai về và còn chào mình là u, nghe Tràng nói thì đã hiểu ra cơ sự. Giữa nạn đói khi ấy mà con trai có vợ khiến bà vừa mừng vừa lo. Anh cu Tràng có vợ khiến cho mọi thứ và mọi người thay đổi. Trong họ đều cảm thấy có một cái gì đó tươi mới hẳn lên. Một đám cưới bình dị đã được diễn ra với bữa cơm đầu đón nàng dâu mới là nồi cháo lõng bõng và bát cháo cám nghẹn đắng ở cổ nhưng trong đó có cả tình yêu thương, sự bao dung và niềm tin mà người mẹ già dành cho đôi vợ chồng trẻ. Kết thúc tác phẩm với âm thanh của tiếng trống thúc thuế, hình ảnh quạ đen bay trên trời, thị nói về chuyện quân Việt Minh phá kho thóc Nhật và lúc ấy trong óc Tràng hiện lên hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. “Bốn bát bánh đúc thành lễ cưới thật rồi/ Xin từ điển hãy thêm từ vợ nhặt/ Ngòi bút Kim lân tưởng như đùa như khóc/ Đói quắt quay nhưng tha thiết con người” tác phẩm đã để lại cho ta giá trị sâu sắc về tình người và niềm tin vào tương lai tươi sáng trong cuộc sống.

Quảng cáo

Tóm tắt Vợ nhặt

Tóm tắt Vợ nhặt (mẫu 2)

Nhân vật chính trong truyện là Tràng – một người đàn ông xấu xí, dáng người thô kệch, ế vợ, lại dở hơi, sống ở xóm ngụ cư. Tràng làm nghề kéo xe bò kiếm sống qua ngày nuôi mẹ già – bà cụ Tứ. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Tràng đã nhặt được vợ một cách dễ dàng chỉ với một vài câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Trên đường đưa vợ về nhà, cả xóm ngụ cư tò mò, ngạc nhiên khiến anh thích chí, mặt cứ vênh lên tự đắc rất hãnh diện, sung sướng. Khi thấy Tràng ra tận đầu ngõ đợi chờ, bà cụ Tứ phấp phỏng, linh cảm có việc quan trọng bất thường. Bà ngạc nhiên khi thấy trong nhà có một người đàn bà lại chào bà bằng u. Khi được Tràng giới thiệu người đàn bà này là vợ của mình, bà lão cúi đầu, nín lặng, chấp nhận và hiểu ra nhiều điều. Một mặt bà vui mừng vì con đã có vợ, một mặt bà buồn tủi, đồng cảm cho số kiếp nghèo khổ và lo lắng về tương lai. Nước bà cứ chảy xuống ròng ròng.

Sáng hôm sau, Tràng thức dậy thấy trong người êm ái lửng lơ như từ giấc mơ đi ra. Nhà cửa, sân vườn đã được dọn dẹp quét tước gọn gàng sạch sẽ. Tràng thấy vui và cảm thấy mình phải có bộ phận với vợ, có trách nhiệm với gia đình hơn. Bữa cơm đón nàng dâu mới chỉ có nồi cháo cám, chè khoán, đĩa muối và rau chuối thái rối và đắng chát. Trong bữa cơm, bà cụ chỉ toàn kể những chuyện làm ăn vui vẻ, vợ Tràng kể cho anh nghe về Việt Minh.

Bỗng có tiếng trống thúc thuế ngoài đình đã làm trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

Xem thêm :  Liên hệ giữa phép chia và phép khai phương

Tóm tắt Vợ nhặt (mẫu 3)

Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra lan tràn khắp nơi trên cả nước, người chết như rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma. Tràng là chàng trai xấu xí thô kệch, ế vợ, Tràng sống ở xóm ngụ cư. Anh làm nghề kéo xe bò thuê và sống cùng người mẹ già. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Tràng đã quen với một cô gái. Vài ngày sau gặp lại, Tràng không còn nhận ra cô gái ấy, bởi vẻ tiều tụy, đói rách làm cô đã khác đi rất nhiều. Tràng đã mời cô gái một bữa ăn, cô gái liền ăn một lúc bốn bát bánh đúc. Sau một câu nói nửa thật, nửa đùa, cô gái đã theo anh về nhà làm vợ. Việc Tràng nhặt được vợ đã làm cả xóm ngu cư ngạc nhiên, nhất là bà Cụ Tứ (mẹ của Tràng) cũng không nổi bàng hoàng ngạc nhiên và lo lắng nhưng rồi bà cụ cũng đã hiểu ra và chấp nhận người con dâu ấy. Trong bữa cơm” đón nàng dâu mới, họ chỉ với một bữa cháo kèm theo là nồi cháo cám bà cụ tứ dành cho nàng dâu nhân bữa cơm đón nàng dâu mới với tấm lòng độ lượng, bao dung. Tác phẩm kết thúc ở chi tiết vào buổi sáng hôm sau tiếng trống thúc thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào.

Quảng cáo

Tóm tắt Vợ nhặt (mẫu 4)

Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, cơ cực ở xóm ngụ cư. Một ngày kia, trong buổi chiều, trong không khí thê thảm, ảm đạm vì đói, Tràng dẫn về một người phụ nữ. Đó là vợ anh – người vợ nhặt. Tràng đã bắt gặp vợ tương lai của mình đang cảnh đói rách, mời ăn bốn bát bánh đúc kèm theo lời nói đùa vui. Bà mẹ già của Tràng đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu trong mối đau đớn và thương cảm. Tràng cảm thấy con người mình đổi khác. Từ chút đùa đến thoáng lo, bây giờ Tràng thấy niềm vui thành người có trách nhiệm, dù đêm đầu tiên của đôi vợ chồng qua đi trong không khí khét lẹt mùi chết chóc và tiếng hờ khóc ai oán.

Bà mẹ nghèo đãi hai con ít cháo và nồi chè đặc biệt. Miếng cám chát bứ, nghẹn cổ nhưng Tràng vẫn cùng vợ hướng về một cuộc sống đổi khác. Trong óc anh hiện ra đám người đói phá kho thóc và lá cờ đỏ bay phất phới.

Tóm tắt Vợ nhặt (mẫu 5)

Chuyện kể về số phận của một chàng trai với cái tên là Tràng. Trong thời buổi loạn lạc, nạn đói hoành hành, đó là thời điểm của những năm 1945 đã làm hơn 2 triệu người chết, đâu đâu cũng là sự chết chóc. Trong hoàn cảnh như vậy mà chàng trai tên là Tràng lại cưới vợ (hay nói đúng hơn là nhặt được vợ). Nhân vật Tràng ở đây được tác giả miêu tả là một anh chàng rất xấu trai, ăn nói cộc lốc, thô kệch, ấy thế mà lại lấy được vợ. Khi nghe tin anh Tràng cưới vợ thì cả xóm nơi Tràng ở đều ngạc nhiên và lo lắng cho anh, đặc biệt là mẹ của anh mà mọi người gọi “bà là bà cụ Tứ” lúc này lúc vui lúc buồn không biết tại sao? Khi con trai của Bà cưới vợ mà Bà chẳng có gì hơn ngoài lời chúc đến vợ chồng anh là hãy sống tốt.

Bữa cơm ăn mừng cho sự xuất hiện của nàng dâu mới, Bà cụ kể toàn những chuyện vui, Bà hy vọng rằng tương lai của hai đứa con mình sẽ tươi sáng, với “nồi chè khoán” do chính tay Bà nấu, tuy chát đắng nhưng thể hiện được sự quan tâm của Bà tới hạnh phúc của con. Đang trong cuộc vui của gia đình mừng nàng dâu mới thì có tiếng trống thúc thuế dồn dập, trong đầu Tràng nghĩ tới lá cờ Việt Nam bay phất phơ và cùng nhiều người đi cướp kho thóc của giặc để chia cho dân nghèo. Đó là tinh thần đoàn kết của người dân cùng khổ trong chiến tranh và họ vẫn luôn hy vọng rằng sẽ có một tương lai tươi sáng hơn đang chờ đón họ phía trước

Bài giảng: Vợ nhặt – Cô Vũ Phương Thảo (Giáo viên VietJack)

Tác giả tác phẩm Vợ nhặt

A. Nội dung tác phẩm

    Câu chuyện kể về nhân vật anh cu Tràng là một chàng trai nghèo, vì nghèo nên anh không lấy được vợ, anh Tràng làm công việc kéo xe thóc thuê lên tỉnh, vào một ngày đi làm về người ta bỗng thấy anh đi về cùng với một người đàn bà mọi người đồn đoán rằng đó là vợ anh cu Tràng, và đúng đó là vợ của anh cu Tràng thật. Người vợ này là người anh Tràng quen khi đang kéo xe thóc lên tỉnh, chỉ bằng vài câu bông đùa người đàn bà đã theo không anh về làm vợ. Bà cụ Tứ khi thấy con mình có vợ thì vừa lo lắng nhưng phần nào cũng vui mừng, chúc phúc cho cặp vợ chồng. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy Tràng thấy mọi sự thay đổi trong căn nhà của mình, sạch sẽ tươm tất gọn gàng và tất cả mọi người trong nhà ai nấy đều vui vẻ rạng rỡ hẳn lên. Bữa ăn đầu tiên đón con dâu mới của gia đình chỉ vỏn vẹn có món rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo những cả nhà đều ăn rất ngon lành và nói đến những chuyện vui về tương lai. Thị kể về chuyện những người đi phá kho thóc Nhật cho Tràng và bà cụ Tứ nghe, tưởng chừng như đó chỉ là những câu chuyện vô thưởng vô phạt nhưng nó lại chính là chìa khóa mở ra trong đầu anh Tràng lá cờ của Đảng và một cuộc sống mới trong tương lai hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp hơn.

Xem thêm :  Top 10 truyện cười dân gian châm biếm trào phúng hay nhất mọi thời đại

B. Đôi nét về tác phẩm

1. Tác giả

– Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài.

– Quê quán: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

– Phong cách nghệ thuật: Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thường viết về nông thôn và những người nông dân của làng quê Việt Nam. 

– Sự nghiệp văn học: 

+ Năm 1944, Kim Lân tham gia hội văn hóa cứu quốc, sau đó tiếp tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).

+ Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

– Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn 1962).

2. Tác phẩm

a, Hoàn cảnh sáng tác

    Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân được in trong tập Con chó xấu xí (1962). Ban đầu có tên là Xóm ngụ cư nhưng do bị thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại (1954), tác giả đã dựa vào cốt truyện cũ để viết lại truyện ngắn này.

    Truyện tái hiện lại bức tranh nạn đói năm 1945 ảm đạm, thê lương và đói nghèo.

b, Bố cục

– Đoạn 1: Từ đầu đến “tự đắc với mình” 

Đoạn văn kể lại việc anh Tràng dẫn người “vợ nhặt” về xóm ngụ cư

– Đoạn 2: Từ “Thị lẳng lặng theo hắn vào nhà” đến “rồi cùng đẩy xe bò về”

Đoạn văn kể lại câu chuyện hai người gặp nhau và cái duyên đưa họ trở thành vợ chồng.

– Đoạn 3: Từ “Tràng chợt đứng dừng lại” đến “nước mắt chảy dòng dòng” 

Tràng giới thiệu người vợ nhặt với mẹ mình. Tâm trạng lo lắng nhưng vui mừng, phấn khởi của bà cụ Tứ trước hạnh phúc cả đời của các con.

– Đoạn 4: Đoạn còn lại: 

Những thay đổi tích cực của gia đình anh cu Tràng vào buổi sáng hôm sau. Niềm tin, hy vọng về sự đổi khác trong tương lai.

c, Phương thức biểu đạt: Tự sự.

d, Ý nghĩa nhan đề:

– Nhan đề nói đến một việc vô cùng vô lý. Thường từ “nhặt” chỉ để dùng với những thứ đã bị vứt đi, bị rơi, bỏ. Tuy nhiên tác giả ở đây lại kết hợp với từ “vợ”. Qua đó ta thấy được số phận, giá trị của những con người trong bối cảnh xã hội đó họ bị rẻ rúng, coi thường như những đồ dùng bị vứt đi, có thể nhặt về thật dễ dàng.

– Nhan đề thâu tóm được toàn bộ nội dung và tư tưởng của tác phẩm. Phơi bày hiện thực cuộc sống xã hội Việt Nam trong những năm mà nạn đói 1945 hoành hành. Con người lúc này để duy trì cuộc sống có thể dẫm đạp lên chính lòng tự trọng của bản thân mình. 

e, Giá trị nội dung

– Phản ánh hiện thực cuộc sống nghèo túng, bi đát đến độ con người phải bán rẻ đi cả nhân cách và phẩm giá của bản thân mình.

– Ca ngợi niềm tin yêu, khát vọng hạnh phúc gia đình của anh cu Tràng dù trong hoàn cảnh khốn cùng nhất nhưng vẫn luôn tin tưởng vào ngày mai tươi đẹp hơn.

– Tác giả đã gián tiếp lên án tố cáo thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra thảm họa nạn đói năm 1945, để biết bao người dân phải chịu cảnh khốn cùng.

Xem thêm :  Quy tắc nắm tay trái

f, Giá trị nghệ thuật.

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lý, tính cách của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi tự nhiên.

– Kết cấu truyện đặc sắc.

C. Đọc hiểu văn bản

I. Tìm hiểu nhân vật anh cu Tràng.

1. Lai lịch

– Ngoại hình: xấu xí, thô kệch.

– Tính cách: 

+ Hóm hỉnh, chân thật, vô tư,…

+ Là người chăm chỉ, chịu khó làm ăn,…

– Hoàn cảnh: 

+ Là người dân nghèo sống trong xóm ngụ cư.

+Sống cùng với người mẹ già, làm nghề kéo xe bò thuê.

+ Vì nghèo khó nên anh ta vẫn chưa lấy được vợ.           

2. Vẻ đẹp tâm hồn.

– Giàu lòng thương người:

+ Lần đầu gặp thị, anh Tràng chỉ có ý định đùa chút cho đỡ mệt.

+ Lần thứ hai gặp thị, anh không né tránh rất vui vẻ, mời thị ăn giầu ăn bánh đúc.

+ Quyết định dẫn thị về nhà mặc dù hoàn cảnh gia đình Tràng cũng rất khó khăn.

– Khao khát hạnh phúc:

+ Trên đường trở về nhà cùng Thị Tràng vui vẻ hạnh phúc đôi mắt lấp lánh. 

+ Về nhà: Xăm xăm bước vào nhà thu dọn: lén nhìn thị cười, khi mẹ đồng ý thì thở phào nhẹ nhõm.

+ Hôm sau cảm thấy êm ái, lơ lửng có cái gì đó mới mẻ, lạ lẫm.

– Trách nhiệm:

+ Nghĩ đến việc sinh con đẻ cái, nhận thức được trách nhiệm với vợ con.

+ Muốn tu sửa lại căn nhà.

+ Tỏ ra ngoan ngoãn khi nghe mẹ bàn chuyện.

– Niềm tin:

+ Ân hận, tiếc rẻ khi không theo mọi người phá kho thóc Nhật.

+ Hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới.

II. Tìm hiểu nhân vật người vợ.

1. Lai lịch

Ngoại hình: xấu xí, gầy gò, rách rưới.

– Hoàn cảnh:

+ Không tên tuổi, không quê quán, không họ hàng, nghề nghiệp, lê la phố chợ.

+ Cùng đường liều lĩnh.

+ Chỉ vì miếng ăn mà không ngần ngại bán rẻ danh dự, theo không một người đàn ông xa lạ về làm vợ.

2. Vẻ đẹp tâm hồn:

– Trên đường về nhà chồng:

+ Ý tứ đi sau Tràng

+ Rón rén, e thẹn trước sự săm soi của mọi người.

+ Ngượng nghịu chân nọ ríu chân kia.

+ Cái nón che khuất nửa khuôn mặt.

– Về đến nhà chồng:

+ Nén tiếng thở dài khi thấy cảnh nhà Tràng. 

+ Ngồi mem mép giường đầy dè dặt, nữ tính.

+ Chào hỏi mẹ chồng lễ phép đúng mực.

– Sáng hôm sau:

+ Dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa.

+ Thông cảm với hoàn cảnh nghèo khó của nhà chồng 

III. Tìm hiểu nhân vật bà cụ Tứ.

1. Lai lịch:

Ngoại hình: Dáng đi lọng khọng vừa đi vừa húng hắng ho.

– Hoàn cảnh: 

+ Nhà nghèo, chồng chết, ở với con trai.

+ Là dân ngụ cư, tuổi đã cao nhưng vẫn phải bươn chải kiếm sống.

2. Vẻ đẹp tâm hồn.

– Yêu thương con:

+ Trước việc con trai lấy vợ theo cách khốn khổ nhất và bất ngờ lo lắng băn khoăn.

+ Xót thương cho con vì mình không thể lo nổi hạnh phúc cho con trai.

– Thương người:

+ Cảm thương cho số phận người con dâu

+ Chấp nhận người con dâu, chào đón trong gia đình của mình.

– Gieo niềm tin cho các con:

+ Động viên các con trước những ngày khó khăn.

+ Bắt đầu ngày mới với khuôn mặt rạng rỡ, làm việc chăm chút cho gia đình nhỏ cùng các con.

+ Nói toàn những chuyện tốt đẹp trong tương lai.

IV. Nghệ thuật.

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lý, tính cách của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi tự nhiên.

– Kết cấu truyện đặc sắc.

D. Sơ đồ tư duy

 Vợ nhặt 

Vợ nhặt

Xem thêm các bài soạn văn lớp 12 hay khác:

Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại khoahoc.vietjack.com

vo-nhat.jsp

Các loạt bài lớp 12 khác


Tóm Tắt Kiến Thức Ngữ Văn 12 – Vợ Nhặt (Kim Lân) – Học siêu nhanh trong 5 phút


Học siêu nhanh tác phẩm Vợ Nhặt tác giả Kim Lân trong vòng 5 phút, bạn không phải ngáp lên ngáp xuống vì cuốn sách đầy chữ, video sẽ giúp bạn học nhanh chỉ với xem video.
Bài giảng tóm tắt tác phẩm Vợ Nhặt, Văn Học lớp 12 Học kỳ 2
VợNhặt VănHọc12 BàiGiảng HọcNhanh

Related Articles

Back to top button